You are on page 1of 4

WiMax và LTE: Chiến hay hoà?

Thế giới công nghệ không thể thiếu những cuộc chiến. Nhưng không phải cuộc chiến
nào cũng "một mất một còn" như cuộc chiến giữa Blu-ray và HD DVD, đôi khi cũng
không nhất thiết phải có thắng thua...

Tốc độ truyền dữ liệu nhanh hơn và tầm phủ sóng xa hơn, các nhà nghiên cứu luôn cố
gắng đưa ra những công nghệ không dây mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
người dùng di động. Nhưng ngành CNTT và viễn thông có những giải pháp khác nhau
cho vấn đề này, điều này tạo nên sự phân chia giữa WiMax và LTE. WiMax (Worldwide
Interoperability for Microwave Access) là nỗ lực của ngành CNTT lấn sân lĩnh vực viễn
thông và LTE (Long Term Evolution) là đòn phản công của ngành viễn thông, đây là hai
ứng viên chính cho mạng không dây thế hệ mới, hứa hẹn tạo nên thế giới không dây băng
rộng tốc độ cao phủ khắp mọi nơi.

WiMax

Cách đây 4 năm, chuẩn WiMax đầu tiên – 802.16-2004 đã được IEEE chấp nhận (để có
thêm thông tin, tham khảo bài “Chuẩn Wimax, USB không dây và UWB: Kiến tạo một
thế giới di động toàn diện” - ID: A0501_92). Không giống các chuẩn không dây khác,
WiMax cho phép truyền dữ liệu trên nhiều dải tần, có thể tránh “đụng độ” với những ứng
dụng không dây khác. WiMax cho tốc độ cao một phần nhờ kỹ thuật OFDM (Orthogonal
Frequency Division Multiplexing) cho phép tăng băng thông bằng cách chia tách các kênh
băng rộng thành nhiều kênh băng hẹp, mỗi kênh dùng tần số khác nhau để truyền đồng
thời các gói dữ liệu.

Tháng 12/2005, IEEE phê chuẩn 802.16e – Mobile


WiMax, bổ sung cho 802.16-2004. Mobile WiMax
cung cấp khả năng di động bằng cách cho phép
chuyển kênh truyền dữ liệu từ một trạm thu phát
này sang một trạm khác khi người dùng di chuyển
giữa 2 trạm.

Tương tự phiên bản 802.11n của Wi-Fi, Mobile


WiMax dùng công nghệ MIMO (Multiple Input
Multiple Output, tham khảo bài “Mạng không dây: Nhanh hơn! Xa hơn!” - ID:
A0508_98) cho phép phát và thu qua nhiều anten để cải thiện tốc độ và chất lượng tín
hiệu. Mobile WiMax được kỳ vọng cạnh tranh với các công nghệ di động, Wi-Fi và các
công nghệ truy cập Internet như DSL.

Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng Mobile WiMax sẽ nhanh chóng trở nên phổ biến vì
không cần cơ sở hạ tầng tốn kém như các hệ thống dùng dây và cung cấp đủ băng thông
cho các dịch vụ thoại, dữ liệu và các dịch vụ đa phương tiện như truyền hình độ nét cao
(HDTV). Theo một nghiên cứu hồi tháng 4/2008, tổ chức WiMAX Forum dự báo trong 5
năm tới số lượng người dùng Mobile WiMax trên toàn cầu có thể đạt gần 100 triệu. Gần
đây nhiều hãng đã bắt đầu đưa ra sản phẩm di động được WiMax Forum chứng nhận tuân
theo chuẩn IEEE và có thể làm việc với nhau. Các nhà khai thác mạng tại nhiều quốc gia,
đặc biệt là khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đang hoặc có kế hoạch triển khai WiMax
(tại Việt Nam cũng có 4 nhà khai thác viễn thông đã được cấp phép triển khai).

Tuy nhiên, thế giới công nghệ thay đổi nhanh. Mới vừa nổi lên như một ứng viên nặng ký
thách thức công nghệ di động 3G nhưng chưa kịp xác lập chỗ đứng trên thị trường thì
WiMax đã phải đối mặt với một thách thức đáng gờm: LTE.

LTE

LTE là thế hệ thứ tư tương lai của


Mặc dù người dùng ở nhiều quốc gia còn chưa trải nghiệm
chuẩn UMTS do 3GPP phát triển.
qua mạng 3G, nhưng nhiều hãng sản xuất thiết bị hiện đã
UMTS thế hệ thứ ba dựa trên
làm việc với công nghệ 4G. Và LTE được cho là cơ hội cho
các nhà cung cấp mạng di động ở các quốc gia mới phát
WCDMA đã được triển khai trên toàn
triển chuyển thẳng từ 2G lên 4G.
thế giới. Để đảm bảo tính cạnh tranh
cho hệ thống này trong tương lai, tháng 11/2004 3GPP đã bắt đầu dự án nhằm xác định
bước phát triển về lâu dài cho công nghệ di động UMTS với tên gọi Long Term Evolution
(LTE). 3GPP đặt ra yêu cầu cao cho LTE, bao gồm giảm chi phí cho mỗi bit thông tin,
cung cấp dịch vụ tốt hơn, sử dụng linh hoạt các băng tần hiện có và băng tần mới, đơn
giản hóa kiến trúc mạng với các giao tiếp mở và giảm đáng kể năng lượng tiêu thụ ở thiết
bị đầu cuối. Đặc tả kỹ thuật cho LTE đang được hoàn tất và dự kiến sản phẩm LTE sẽ ra
mắt thị trường trong 2 năm tới.

Về công nghệ, LTE và WiMax có


một số khác biệt nhưng cũng có
nhiều điểm tương đồng. Cả hai
công nghệ đều dựa trên nền tảng IP.
Cả hai đều dùng kỹ thuật MIMO để
cải thiện chất lượng truyền/nhận tín
hiệu, đường xuống từ trạm thu phát
đến thiết bị đầu cuối đều được tăng
tốc bằng kỹ thuật OFDM hỗ trợ
truyền tải dữ liệu đa phương tiện và
video. Theo lý thuyết, chuẩn
WiMax hiện tại (802.16e) cho tốc độ tải xuống tối đa là 70Mbps, còn LTE dự kiến có thể
cho tốc độ đến 300Mbps. Tuy nhiên, khi LTE được triển khai ra thị trường có thể WiMax
cũng sẽ được nâng cấp lên chuẩn 802.16m (còn được gọi là WiMax 2.0) có tốc độ tương
đương hoặc cao hơn.

Đường lên từ thiết bị đầu cuối đến trạm thu phát có sự khác nhau giữa 2 công nghệ.
WiMax dùng OFDMA (Orthogonal Frequency Division Multiple Access – một biến thể
của OFDM), còn LTE dùng kỹ thuật SC-FDMA (Single Carrier - Frequency Division
Multiple Access). Về lý thuyết, SC-FDMA được thiết kế làm việc hiệu quả hơn và các
thiết bị đầu cuối tiêu thụ năng lượng thấp hơn OFDMA.

LTE còn có ưu thế hơn WiMax vì được thiết kế tương thích với cả phương thức TDD
(Time Division Duplex) và FDD (Frequency Division Duplex). Ngược lại, WiMax hiện
chỉ tương thích với TDD (theo một báo cáo được công bố đầu năm nay, WiMax Forum
đang làm việc với một phiên bản Mobile WiMax tích hợp FDD). TDD truyền dữ liệu lên
và xuống thông qua 1 kênh tần số (dùng phương thức phân chia thời gian), còn FDD cho
phép truyền dữ liệu lên và xuống thông qua 2 kênh tần số riêng biệt. Điều này có nghĩa
LTE có nhiều phổ tần sử dụng hơn WiMax. Tuy nhiên, sự khác biệt công nghệ không có ý
nghĩa quyết định trong cuộc chiến giữa WiMax và TLE.

BẢNG 1: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC CHUẨN CỦA 3GPP


Phiên bản Thời điểm hoàn Tính năng chính / Thông tin
tất
Giới thiệu UMTS (Universal Mobile Telecommunications System)
Release 99 Quí 1/2000
và WCDMA (Wideband CDMA).
Release 4 Quí 2/2001 Bổ sung một số tính năng như mạng lõi dựa trên IP và có những cải
tiến cho UMTS.
Release 5 Quí 3/2001 Giới thiệu IMS (IP Multimedia Subsystems) và HSDPA (High-
Speed Download Packet Access).
Release 6 Quí 4/2001 Kết hợp với Wireless LAN, thêm HSUPA (High-Speed Upload
Packet Access) và các tính năng nâng cao cho IMS như Push to Talk
over Cellular (PoC).
Release 7 Quí 4/2007 Tập trung giảm độ trễ, cải thiện chất lượng dịch vụ và các ứng dụng
thời gian thực như VoIP. Phiên bản này cũng tập trung vào HSPA+
(High Speeed Packet Evolution) và EDGE Evolution.
Release 8 Dự kiến cuối năm Giới thiệu LTE và kiến trúc lại UMTS như là mạng IP thế hệ thứ tư
2008 hoặc đầu năm hoàn toàn dựa trên IP.
2009

Đua đường dài

Hiện tại WiMax có lợi thế đi trước LTE: mạng WiMax đã được triển khai và thiết bị
WiMax cũng đã có mặt trên thị trường, còn LTE thì sớm nhất cũng phải đến năm 2010
người dùng mới được trải nghiệm. Tuy nhiên LTE vẫn có lợi thế quan trọng so với
WiMax. LTE được hiệp hội các nhà khai thác GSM (GSM Association) chấp nhận là công
nghệ băng rộng di động tương lai của hệ di động hiện đang thống trị thị trường di động
toàn cầu với khoảng 2,5 tỉ thuê bao (theo Informa Telecoms & Media) và trong 3 năm tới
có thể chiếm thị phần đến 89% (theo Gartner) – những con số “trong mơ” đối với WiMax.
Hơn nữa, LTE cho phép tận dụng dụng hạ tầng GSM có sẵn (tuy vẫn cần đầu tư thêm thiết
bị) trong khi WiMax phải xây dựng từ đầu.

BẢNG 2: LTE VÀ WIMAX


Tính năng 3GPP LTE RAN1 802.16e/Mobile 802.16m/Mobile
WiMax R1 WiMax R2
Ghép kênh TDD, FDD TDD TDD, FDD
Băng tần dự kiến 700MHz – 2,6GHz 2,3GHz, 2,5GHz, 3,3- 2,3GHz, 2,5GHz, 3,3-
3,8GHz 3,8GHz
Tốc độ tối đa 300Mbps /100Mbps 70Mbps /70Mbps 300Mbps /100Mbps
(Download/Upload)
Di động 350km/h 120km/h 350km/h
Phạm vi phủ sóng 5/30/100km 1/5/30km 1/5/30km
Số người dùng VoIP đồng 80 50 100
thời
Thời điểm hoàn tất chuẩn Dự kiến cuối năm 2008 hoặc 2005 Dự kiến cuối năm 2009
đầu năm 2009
Triển khai ra thị trường 2009-2010/2012 2007-2008/2009 2010

TThời thế đổi thay, nhận thấy lợi thế của LTE, một số nhà khai thác mạng đã cân nhắc lại
việc triển khai WiMax và đã có nhà khai thác quyết định từ bỏ con đường WiMax để
chuyển sang LTE, đáng kể trong số đó có hai tên tuổi lớn nhất tại Mỹ là AT&T và Verizon
Wireless. Theo một khảo sát do RCR Wireless News và Yankee Group thực hiện gần đây,
có đến 56% nhà khai thác di động chọn LTE, chỉ có 30% đi theo 802.16e. Khảo sát cho
thấy các nhà khai thác di động ở Bắc Mỹ và Tây Âu nghiên về LTE, trong khi các nước
mới phát triển (đặc biệt là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương) thì ủng hộ WiMax.

Nhiều hãng sản xuất thiết bị đi nước đôi, một mặt tuyên bố vẫn ủng hộ WiMax, mặt khác
lại dốc tiền đầu tư cho LTE. Ngay như Intel, đầu tàu hậu thuẫn WiMax, cũng “đổi giọng”.
Cả Siavash M. Alamouti, giám đốc kỹ thuật Wireless Mobile Group và Sean Maloney,
giám đốc tiếp thị của Intel, trong các phát biểu gần đây đều cho rằng WiMax có thể “hoà
hợp” với LTE.

Trong cuộc đua 4G, WiMax và LTE hiện là hai công nghệ sáng giá nhất. Liệu hai công
nghệ này có thể cùng tồn tại độc lập hay sẽ sát nhập thành một chuẩn chung? Hiệu năng
của WiMax và LTE tương đương nhau, do vậy việc quyết định hiện nay phụ thuộc vào
yếu tố sẵn sàng và khả năng thâm nhập thị trường.